Bài thơ Nôm Tày chống thuốc phiện cách đây gần 200 năm

Đăng lúc: Thứ ba - 25/06/2013 20:42 - Người đăng bài viết: VS
Để góp phần nhỏ vào công cuộc cả nước ta hiện đang ra sức ngăn chạn, đi tới xóa bỏ các tệ nạn xã hội, như gieo trồng và buôn bán thuốc phiện, hút hít tiêm chích ma tuý v.v… chúng tôi muốn được trình bày ở đây về một bài thơ cũ viết bằng chữ Nôm của người dân tộc Tày cách ngày nay gần 200 năm, mang tính chiến đấu sắc bén chống lại thuốc phiện, đồng thời vạch rõ tác hại vô cùng ghê gớm của việc nghiện hút, thể hiện tấm lòng yêu thương xót xa nòi giống, lên tiếng khuyến cáo mọi người thuộc mọi dân tộc trong nước ta hãy đồng lòng chung sức “đuổi xa con khỉ độc thuốc phiện”, phá tan âm mưu thâm hiểm của các kể thù ngoại bang dùng thuốc phiện, tửu, sắc để nhằm huỷ diệt ngấm ngầm sinh lực các dân tộc Việt.
* Bài thơ có nhan đề 詩 鴉 片 Đọc âm Tày là Sli Da Phiền. Nếu đọc theo âm Hán Việt lại là Thi Nha Phiến. Cả bài gồm 80 câu. Phần lớn các câu 7 chữ, thỉnh thoảng có câu đôi 1 chữ. Hình thức câu thơ như thế, xưa nay người Tày thường gọi là thơ thất ngôn trường thiên và được sử dụng một cách phổ biến để sáng tác những bài thơ dài, đặc biệt là viết truyện thơ.
Tác giả của bài thơ là ai?
Chính là: Cao Bằng tỉnh Hòa An ấp tử Lục Minh Kim, dịch ra tiếng Việt là: “Người con của ấp Hòa An tỉnh Cao Bằng (tên) là Lục Minh Kim”. Ông không nói là “sáng tác như chữ thời nay, mà viết ở dưới dòng tên mình bằng 2 chữ: Bút đề, theo chúng tôi hiểu là: (Cầm) bút đề (thơ). Như vậy rõ ràng là sáng tác. Tìm hiểu về thân thế và sự nghiệp của tác giả, chúng tôi đã khảo cứu thêm qua sách Lục tộc thế phả(1) và tìm về tận nơi địa phương hỏi thêm các vị như Lục Văn Lần, Lục Minh Kiến, cũng có tham khảo thêm cả ý kiến ông Lục Văn Pảo ở Viện Dân Tộc học, thì được một số thông tin như sau: + Cụ Lục Minh Kim sinh vào khoảng cuối thời Lê Cảnh Hưng (1785 hay -86 ?) và mất vào năm 85 tuổi (thọ), tức 1871 thời Tự Đức. + Được học từ ông cha mình và gia đình về ssau có mời Thầy đồ về dạy; không đi thi. + Từ thuở đồng ấu “thông ngỏ” hơn người, sáng làng về đàn nhạc, âm luật và ưa thích thơ ca, lý hạng cùng các truyện thơ cổ. + Cụ để laịi cho con cháu một số sách do cụ viết như: Thổ Ngữ Sưu Tập, Hòa An Phong Thổ Ký, (Sli Slư nam (= Thơ viết bằng chữ Nôm Tày). Những sách này hiện giờ ông Lục Minh Kiến là chắt 6 đời trực hệ của cụ, là người biết chữ Nho và chữ Nôm, còn gìn giữ được khá tốt. Bài thơ Sli Da Phiền được viết trong cuốn Sli SLư Nam này.
Căn cứ vào bài thơ vốn viết bằng chữ Nôm Tày mà cố gắng thử phiên âm ra tiếng Tày hiện nay, để các nhà nghiên cứu có dịp tiếp cận với tiếng Tày và nhất là để đồng bàô Tày cũng cảm thông.
Tạm dịch bài thơ ra tiếng Việt để tất cả chúng ta cùng biết. Những chỗ nào cần làm rõ hơn, có chú thích ở cuối bài.
Phiên âm tiếng Tày(2)
Sli da phiền
01. Bút chép tởi Rườn Nguyễn hất vương
Ngoại quốc cần Bắc phương slinh chước
Bày tạo pền hàng duốc da phiền
Toọc duốc khai tằng miền đin nước
05. Tự xuôi thâng ngược hại muôn cần
Mội điếu ngần chèn ước hả phân
Lại phuối lừa “thập toàn đại bổ” (?!)
Thiên hạ chầu slắm slửa vỉ vang
Điếu túc no xui vàng lân phượng
10. Đồ đén vạ muôn tượng cảnh dân
Còn tặt tẻ trang lầm pét các
Dự khai tham dầu lạc tẻm tăng
Mở tiệm bióoc lăng lăng các kéo
Cắng tót them giường chiếu khân màn
15. Gối phượng chăn loan đăm nắm tẩm
Quây màn nòn “càn khảm” pét mon
Chùa căn chắng lồng nòn hí há
Tiêm doạn dâng hẩu cá liền eng
Vần noọng nhị nòn keng hít hút
20. Đợ xân chàng nghi ngút buồng hương
Cạ đệ tử rườn chương quây slửa
Slắp slắn buồng quạt lửa slim dèo
Tằng cảm tông hái theo va nhị
Sloong slíp pi phông nhụy phơi mầu
25. “Bủ thượng hạ” xa cầu cúa lả
Péng khảo, trà sen vạ táo lê
Đo mĩ vị thỏa thê nông nống
Chùa căn kin chài noọng nứng on
“Tiểu bổ” da hất luôn “Đại bổ”
30. Lão cu cu Sực lẩu áp kê
Tửu nhục đã hả hê phủ tạng
Lẻ thâng tuyện “lai vãng âm dương”
Kẻ chầu mì dở dương “ái ý”
Ghiền do lội hú hí mân mê
35. Áp noọng nhụy lỉn huê khoái chí
Liền eng cắp liền chị mây mưa
Ná chắc lăng sa đà bịnh hoạn…
Voi đú đởn hẩu nên nạn đú
Hạng ô y thường lý hất càn
40. Dân đen cần phạm phải càng slương
Còn lẻ cụng băn khoăn suy nghị
Song le slử ngòi vị pền lừ
Tắc lịn thôi đứ đừ nòn dí
Lúc mì chèn xích ý liểu kin
45. Cụng lẩu nựa doạn tiem hút hút
Cụng noọng kề pát úp song song
Chuột miệng mèo, luồn hông nghí ngoáy
Cạn chèn lội vét xái cụng kin
Vằn quá vằn sơn kiên cụng đổ
50. Phầy da kia chút lở phia vàng
Nàng Then Nâu phá tan gia sản
Xân tàn ma thảm tự phi ma
Mìa lục khỏ, lân la ái ngại
Giận lẻ giận, slương hại cụng slương
55. Hồi đầu muộn, Ma Vương chặn tón
Hỏi tại hâư? lẻ cón do xân
Mắc kế xâm cần Thanh xứ Hác
Sát hại thuổn Nam, Bắc, Đông, Tây
Triệt mòn mỏi cần Tày, cần Mán
60. Bấu trừ hâư Mèo, slán, Mường, Keo…
Hác còn xui trồng gieo thuốc phiện
Để khẩu, thúa vạ mạy mén pây (!?)
Phú – Lăng – Sa càng gây hiểm độc
Giết thiếu niên, triệt cốc giống nòi
65. Bằng Tửu - Sắc – Gái chơi – Nha phiến
Khuốp mội tỉ lén mén lăng nhăng
Sa đà khảu slam vằng lậc xẳm
Văn minh lăng? - Ngầm ngấm vong nô
Nạn nhân ới! Nguộn cờ tự chủ
70. Dựng thâng pây! Rà ngự Nam Bang!
Pì noọng hợi! Sức rèng thanh tú
Phú túc cùng bần khổ slương căn
Tự Xuôi chí Ngược phăn bấu lẻ
Khuốp bản mường, thành thị mội cần
75. Sĩ, Nông, Công, Cổ slim cò toọc
Xỉnh ngỏ xui! “lình đoọc” đuổi xa!
Cáy khăn dá, Xuân mà đin nặm
Slứ mủa Va phông thắm đào mai
Dân chàu Quốc mẹng càng ngày càng Xuân.
Hoàng triều vạn vạn niên, Gia Long Kỷ Mão
Niên thập nguyệt thập tứ nhật Cao Bằng tỉnh
Hòa An ấp tử Lục Minh Kim bút đề.
Dịch tiếng Việt(3)
THƠ THUỐC PHIỆN
01. Bút chép truyện đời Nguyễn làm vua
Người phương Bắc đặt ra mưu chước
Tạo bày nên món thuốc “Da phiền”(4)
Thuốc độc bán khắp miền đất nước
05. Từ miền Xuôi lên miền Ngược hại dân
Mỗi điếu bán “5 phân” tiền giá(5)
Lại lừa rằng “thuốc bổ thập toàn” (?!)
Người giàu sang vội sắm bàn đèn
Mua ống tẩu chạm lân trổ phượng
10. Nạm bạc vàng cảnh tượng xa hoa
Lại mở ra tòa hút lầu tiêm
Mua bán sẵn dầu đèn hảo hạng
Giường chiếu hoa, quạt bảo, chăn loan
Gối mềm, nệm ấm nằm ngâm tẩm
15. Màn buông “Càn - Khảm” đủ các môn(6)
Cùng nhau ngả xuống “nòn” hỉ hả(7)
Sẵn kẻ tiêm dâng “”, hầu anh(8)
Buồng trong có “ả nàng” đón giấc(9)
Đỡ thân chàng bõ lúc đêm sương
20. Đủ đào non hầu gường gối sẵn
Tha hồ mà thỏa mãn lửa nồng
Hoa cứ hái đêm đông mưa gió
Hoa đôi tám phô nhụy phơi mầu
Của lạ ấy “bổ đầu bổ cuối”(10)
25. Bánh khảo, trà sen, cam, chuối, lê
Thừa mĩ vị thỏa thê nông nống
Ăn ăn, uống uống, ấp ấp, ôm ôm
Tiểu bổ” thế! Kèm luôn “đại bổ”!(11)
Cháo chim cu, gà vỗ, vịt ngon
30. Tửu nhục đã êm êm phủ tạng
Lại làm chuyện “lai vãng âm dương”(12)
Kẻ giầu có dở dương ái dục(13)
Ghiền thuốc là lục sục mân mê
Vần bông nhụy, chơi huê thỏa chí
35. “Liền anh” cắp “Liền chị” mây mưa(14)
Chẳng cần biết sa đà bịnh hoạn…
Voi đú đởn, lợn nai cũng đú
Bọn làmquan sa hố làm càn
Mắc màn thương nhất dân đen ấy!
40. Mới đầu còn run rẩy nghĩ suy
Song le lại “thử đi” để biết
Tặc lưỡi thôi, “khói” riết lấy hồn
Có tiền lại quen mồm hút nữa
Cũng rượu chè, cũng ngứa ngáy mần
45. Cũng ấp em, cũng nắn bóp liền
Hang đó nọm mèo viền o chuột…
Hết tiền dơ duốc là thường
Thân hình như tổ ông tàng giời mưa
Ma thuốc xái quật xô cả núi
50. Nàng tiên nâu khuynh bại gia tài.
Thân tàn ma dại vì ai?
Vợ con đứt ruột, người ngoài cám thương
Giận có giận, thương cũng thương
Quay đầu đã muộn, Ma vương(15) đón đầu!
55. Hỏi tại đâu? Hỏi đầu mình trước
Mắc kế thâm ngoại quốc người Thanh
Giết hại khắp dân lành trong nước
Suốt mọi miền Nam, Bắc, Tây, Đông
Chẳng trừ Mèo, Mán, Tày, Nùng
60. Chẳng trừ Sán Chí, người Mường, người Kinh(16)
Người Tầu còn xui mình trồng thuốc
Bỏ sắn, khoai, đỗ, thóc trên nương.
Người Pháp vào càng hiểm độc hơ (?)
Hại giống nòi, triệt mầm non làm đầu
65. Rượu chè, gái điếm, tiên nâu
Ba thứ một kế nhẹm mầu dăng dăng
Ba vực thẳm sa chân khó rút
Văn minh ư? – Nô dịch ngấm ngầm
Nạn nhân ới! Cầm cự tự chủ.
70. Đứng lên đi! Ta giữ nước Nam!
Anh chị em sức đang tươi tốt
Dẫu sang hèn ta cốt thương nhau
Miền Xuôi, Ngược tâm đầu gắn bó
Muôn triệu người công, cổ, sĩ, nông
75. Chốn thôn hương cho chí thị thành
Tỉnh ngộ thôi! “Khỉ độc” đuổi nhanh!(17)
Gà gáy sáng, Xuân mở bình minh
Đất nước mình rạng rỡ đào mai
Bốn mùa hoa thắm tốt tươi
80. Dân giầu nước mạnh lâu dài muôn xuân.
Ngày 14 tháng 10 năm Kỷ Mão niên hiệu Gia
Long Hoàng triều vạn vạn niên (1819). Người con của
ấp Hòa An tỉnh Cao Bằng là Lục Minh Kim cầm bút đề thơ.
Chú thích:
(1) Lục tộc thế phả hiện do ông Lục Mịnh Kiến, chắt 6 đời của tác giả bài thơ gìn giữ tại địa phương.
(2) Phần phiên âm tiếng Tày, chúng tôi có căn cứ vào Từ điển Tày – Nùng Việt của Hoàng Văn Ma - Lục Văn Pảo – Hoàng Chí, Viện Ngôn ngữ học, UB.KHXH. VN do Nxb.KHXH, HN ấn hành năm 1974. Và có được ông Vi Quốc Bảng, CB.giảng dạy Ngữ văn Trường ĐHSP. Việt Bắc góp cho ý kiến. Xin được bày tỏ lòng cảm ơn đến ông.
(3) Phần dịch Việt văn, chúng tôi tạm dịch, sau đó được sự nhuận sắc của hai ông: Lục Minh Kiến, cháu 6 đời của tác giả Hòa An ấp tử Lục Minh Kim và Vi Quốc Bảng, đồng nghiệp giảng dạy Ngữ văn với chúng tôi.
(4) Da phiền: độc theo âm của người Tày ở địa phương. (Nha phiến, đọc theo Hán Việt) tức Thuốc phiện.
(5) 5 phần (tiền): chưa rõ cách tính giá trị tiền thời Nguyễn và qui ra tiền ngày nay thì là bao nhiêu.
(6) Càn và Khảm: 2 quẻ trong Kinh Dịch. Chưa rõ dụng ý gì hay có lẽ chỉ là các vạch trang trí, nhằm đánh vào tâm lí các con nghiện mà thôi (?).
(7) Nòn: (tiếng Tày) nằm, ngủ.
(8) : (nv tiếng Tày), tiếng xưng gọi anh của cha hay người đàn ông vào hàng cha mình.
(9) Ả nàng (nv tiếng Tày): chỉ chung con gái.
(10) Bổ đầu bổ cuối: Cách nói hàm ý mỉa mai.
(11) Tiểu bổ: bổ ít/bổ bé. Đại bổ: bổ nhiều/bổ lớn. Cũng có hàm ý nói mỉa.
(12) Lai vãng âm dương: qua lại âm dương. Ý nói chuyện sắc dục giữa nam và nữ.
(13) Dở dương: gây ra (theo ý kiến của các ông Vi Quốc Bảng và Lục Minh Kiến).
(14) Liền anh: (tiếng địa phương CB)/ Đền Anh (tiếng Thanh Trì)/ Nền anh (tiếng Kinh Bắc). Cũng vậy; Liền chị/ Đền chị/ Nền chị. Tiếng thường dùng của những người hát giao duyên, ả đào, các tay nam nữ giang hồ.
(15) Quỉ thần đứng đầu ở dưới ngục.
(16) Ở Việt Bắc có 2 dân tộc Sán và Sán Chí và Sán Dìu cùng nói một thứ tiếng, hơi khác nhau về thanh điệu, cũng viết chữ theo kiểu chữ vuông.
(17) Khỉ độc: Có lẽ chỉ những kẻ xâm lược độc ác như bọn cai trị người nhà Thanh Trung Quốc cũ, hay bọn thực dân Pháp.
 
Tác giả bài viết: Cung Khắc Lược
Nguồn tin: Viện nghiên cứu Hán Nôm
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

TIN TỨC TỔNG HỢP

Thành phố đạt giải Nhì toàn đoàn liên hoan hát Then lần thứ I tại Trùng Khánh
THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ TÀI SẢN
Thông báo thời gian tổ chức Đại hội TDTT thành phố Cao Bằng lần thứ VIII
Thông báo kết quả lựa chọn đơn vị tham gia thực hiện cuộc bán đấu giá tài sản.
UBND thành phố chỉ đạo các xã, phường chủ động đối phó với Áp thấp nhiệt đới

Truyền hình

Thời tiết hằng ngày

      DỰ BÁO THỜI TIẾT                                          Đêm 13 ngày 14 tháng 10 năm 2017    + Khu vực Bảo Lạc - Bảo Lâm:  Mây thay đổi đêm...

Văn bản mới

Cao Bằng Portal
UBND TP Cao Bằng
Phòng Giáo dục Thành phố Cao Bằng
Cao Bằng Radio

THỐNG KÊ

  • Đang truy cập: 26
  • Khách viếng thăm: 21
  • Máy chủ tìm kiếm: 5
  • Hôm nay: 960
  • Tháng hiện tại: 57156
  • Tổng lượt truy cập: 6127738


NHÀ TÀI TRỢ